Episodi

  • Việt Nam qua chuyến lưu diễn của Dana Ciocarlie : Âm nhạc và những dòng kết nối
    Feb 18 2026
    Từ ngày 27/11 đến 9/12 năm 2025, nghệ sĩ piano Pháp-Rumani Dana Ciocarlie đã thực hiện chuyến lưu diễn tại Việt Nam, đưa khán giả đi qua những dòng sông, nơi âm nhạc gợi lên hình ảnh chuyển động của nước và tạo thành những kết nối giữa các thế hệ, các nền văn hóa. Chuyến lưu diễn nằm trong khuôn khổ dự án Vivre avec les fleuves của Viện Pháp và danh hiệu Living with Rivers của hiệp hội Novelette, thể hiện tinh thần hợp tác nghệ thuật và ý thức về môi trường, biến mỗi buổi trình diễn thành một hành trình khám phá đầy cảm hứng. Việt Nam là một đất nước được hình thành và được nuôi dưỡng nhờ nước. Các con sông không chỉ tạo nên địa hình và cảnh quan, mà còn đóng vai trò trung tâm trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Từ miền Bắc đến miền Nam, sông ngòi kết nối các vùng đất, định hình đô thị, điều tiết mùa màng và lưu giữ ký ức tập thể. Tại Hà Nội, nhịp sống đô thị dày đặc, liên tục vận động, gợi cảm giác dòng chảy không ngừng. Ở phía Nam, sông nước mênh mông, chia nhánh, tạo thành vùng châu thổ rộng lớn của sông Mê Kông. Trong bối cảnh ấy, chuyến lưu diễn của Dana Ciocarlie gợi lên hình ảnh một cuộc hành trình xuôi theo dòng nước, nơi âm nhạc đối thoại với không gian, lịch sử và con người. Dự án này không chỉ xuất phát từ một chủ đề hay một lãnh thổ, mà còn từ một tình bạn Pháp–Việt được xây dựng qua thời gian. Trước chuyến lưu diễn, đó là một quá trình trao đổi lâu dài, dựa trên sự tin cậy, những câu chuyện được chia sẻ và « dịch chuyển » theo nghĩa rộng : dịch chuyển trong ngôn ngữ, văn hóa và ý tưởng sáng tạo nghệ thuật. Âm nhạc dần trở thành phương tiện chung, kết nối sông Loire – biểu tượng di sản của Pháp – với sông Mê Kông, nguồn sống thiết yếu của Việt Nam, và rộng hơn là kết nối các dân tộc với nhau. Dana cho biết : « Ở Pháp, chúng tôi có một con sông lớn mang tên Loire, đồng thời cũng là nơi khai sinh hiệp hội Novelette mà tôi tham gia thành lập. Và năm 2025 lại được chọn là Năm Quốc tế về sông nước, nên điều này thật hiển nhiên khi chúng tôi nghĩ đến việc tạo nên một chương trình âm nhạc và hành trình khám phá Việt Nam, bắt đầu từ Loire sau đó hướng về Mê Kông. Hai dòng sông này thậm chí còn được chính thức kết nghĩa với nhau. » Chuyến lưu diễn được triển khai với sự hỗ trợ của Viện Pháp tại Việt Nam và hiệp hội Novelette, đơn vị đạt danh hiệu Living with Rivers. Dự án là những suy tư về nước không chỉ như một yếu tố tự nhiên, mà như một mối liên kết sống động giữa con người, văn hóa và sáng tạo. Trong khuôn khổ đó, sông trở thành một không gian gặp gỡ giữa các lĩnh vực, các thế hệ và các chương trình nghệ thuật khác nhau. Một trong những khoảnh khắc đáng nhớ của chuyến lưu diễn là cuộc gặp gỡ với nhóm nghiên cứu CARE (Center Asian Research on Water) trên sông Sài Gòn, nơi Dana Ciocarlie trao đổi về tình trạng của các hệ thống sông ngòi đô thị với các nhà khoa học Pháp và Việt Nam. Những cuộc trao đổi này giúp bà nhận thức được rằng nước không chỉ là nguồn cảm hứng âm nhạc, mà còn là một thực thể mong manh, gắn với trách nhiệm chung, khiến mỗi buổi hòa nhạc trở thành một không gian chia sẻ và nâng cao nhận thức về môi trường. Ngày 28/11, nghệ sĩ piano Dana Ciocarlie tham gia buổi tổng duyệt đầu tiên với dàn nhạc VNSO, dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng Honna Tetsuji. Trong chương trình biểu diễn tối 29 tháng 11 tại Phòng Hòa nhạc Quốc gia Hà Nội, bà trình diễn Concerto số 5 của Camille Saint-Saëns. Dana Ciocarlie chia sẻ : « Concerto số 5 là một tác phẩm khá đặc biệt, còn được gọi là ‘Egyptien’ (Ai Cập), lấy cảm hứng từ đất nước, con người Ai Cập và phương Đông. Văn hóa Pháp thường xuyên hướng cái nhìn về các lục địa khác, các nền văn hóa khác. Camille Saint-Saëns là một nhà soạn nhạc thuộc trường phái Lãng mạn vào thế kỷ 19. Tác phẩm này mang ý nghĩa của một hành trình khám phá.» Bà cho biết thêm: « Tác phẩm có mạch chảy xuyên suốt và đồng thời ...
    Mostra di più Mostra meno
    10 min
  • Ngựa, biểu tượng của tự do và quyền lực qua văn chương và hội họa phương Tây
    Feb 17 2026
    Với người Tây phương, Ngựa là biểu tượng của quyền lực, của sức mạnh và tự do. Ở một thời không quá xa xưa, Ngựa là bạn đồng hành vào sinh ra tử trên chiến trường. Thông minh, tinh tế, trung thành, Ngựa từng được xem như một phương pháp trị liệu để chữa lành những vết thương tâm lý : Ngần ấy lý do khiến con Ngựa có một chỗ đứng riêng biệt trong văn hóa dân gian, trong các truyền thống tín ngưỡng, cũng như trong văn học hay hội họa. Trong thần thoại Hy Lạp, Pegasus là con ngựa có cánh, biểu tượng của sự thanh cao và tính ưu việt. Trong những bức tranh cổ dưới nhiều triều đại phong kiến, nhất là dưới thời Phục Hưng, hình ảnh của các vị hoàng đế cưỡi ngựa thể hiện quyền lực tuyệt đối. Điển hình là tác phẩm Bonaparte franchissant le Grand-Saint-Bernard danh họa Jacques-Louis David thực hiện trong giai đoạn 1800–1803 : Tướng Bonaparte oai phong trên lưng ngựa trắng, vượt đèo Grand-Saint-Bernard trên dẫy núi Alpes, mở đường cho một chiến dịch quân sự vẻ vang viết nên huyền thoại Napoléon sau này. Vào thời kỳ Lãng Mạn thế kỷ XVIII-XIX, những con ngựa hoang trở thành biểu tượng của sức sống nguyên sơ, của tinh thần độc lập. Đến khi mà những cỗ xe ngựa được thay bằng xe đạp, bằng xe hơi bốn bánh, bằng những đoàn tàu hỏa, Ngựa không còn là ngựa thồ hay là phương tiện di chuyển tiện lợi nhất. Từ đó chúng trở thành thú tiêu khiển của giới thượng lưu : khi thì để đi săn, lúc thì để thi thố tài năng trên các trường đua, để cá cược… Ngựa mới chỉ bầu bạn với loài người trong khoảng thời gian từ 5500-2200 năm trước Công Nguyên, không thân thiết với nhân loại như con Chó trong nhà. Điều đó không cấm cản Ngựa là nguồn cảm hứng vô tận trong văn chương. Nhà văn người Anh, William Shakespeare từng quan niệm : « Thượng Đế đã tạo ra con ngựa từ hơi thở của Gió, từ vẻ đẹp của Đất và Tâm Hồn của con Người » cho nên, con vật ấy là « hồn, là sức mạnh tự nhiên để dẫn dắt, che chở, dẫn đường cho mỗi cá nhân hay mỗi cộng đồng ». Ngựa và tính gợi cảm Dưới nhãn quan của nhà văn người Pháp, Gustave Flaubert thế kỷ XIX thì khác. Trong tiểu thuyết Madame Bovary (1857) ông không chỉ xem Ngựa là một phương tiện di chuyển và con vật tinh tế và thông minh này trước hết là ẩn dụ cho dụng vọng, là hình ảnh của những người tình được nàng Emma lý tưởng hóa. Là một thiếu nữ có học, Emma chán anh chồng hiền lành và nhạt nhẽo như Charles. Cô tìm kiếm đam mê trong vòng tay của Rodopphe và Léon. Nhưng con ngựa mà Charles cưỡi trong lần anh đi thăm con bệnh, trong lần đầu gặp nàng Emma, là « một con ngựa cái trắng già nua (...) bước đi thiếu vững vàng ». Ngựa của Charles vụng về, hiền lành, kém hấp dẫn như ông chủ của nó. Trái lại, ngựa của Rodophe hay Léon là những con tuấn mã quyến rũ và bốc lửa. Mọi người còn nhớ hình ảnh Emma lên ngựa cùng Rodolphe nhờ có sự gửi gắm của Charles. Lần này, người và ngựa xuất hiện với vẻ ngoài hấp dẫn hơn hẳn so với anh chồng tội nghiệp : « Rodolphe đến trước cửa nhà Charles với hai con ngựa sang trọng. Một con đeo chùm tua hồng ở tai và yên ngựa phụ nữ bằng da hoẵng ». Trong chuyến dã ngoại đó, « con ngựa của Emma phóng nước đại. Rodolphe phi song song bên nàng. Thỉnh thoảng họ trao đổi vài lời. Hơi cúi mặt, tay nâng cao và cánh tay phải duỗi ra, nàng buông mình theo nhịp chuyển động của yên ngựa ». Gương mặt cúi xuống cũng như « sự buông thả theo nhịp chuyển động của yên ngựa » : Bà Bovary như thể đã sẵn sàng hiến dâng. Khi đến bìa rừng, « Họ xuống ngựa. Rodolphe buộc ngựa lại. Nàng đi trước, thả bước trên lớp rêu, (…) Nhưng chiếc váy quá dài vướng víu, dù đã được vén lên. Rodolphe, bước phía sau, ngắm nhìn giữa lớp vải đen và đôi bốt đen kia phối hợp tinh tế với đôi tất trắng (…) ». Sau những lời yêu đương ngọt nào, Rodolphe thúc ép nàng. Emma sợ hãi, cô cuống cuồng đi tìm ngựa để anh phải đỡ nàng ngang hông. Rodolphe không thể chờ thêm, chàng nài nỉ và người phụ nữ ...
    Mostra di più Mostra meno
    10 min
  • Nhà sản xuất phim Katayoon Shahabi: "Iran là một nhà tù lớn"
    Feb 13 2026
    Là thành viên ban giám khảo quốc tế của Liên hoan Điện ảnh Châu Á Vesoul 2026 ( 27/01-03/02/2026 ), trong lễ khai mạc khai mạc sự kiện này tối 27/01, bà Katayoon Shahabi, nhà sản xuất phim người Iran nay sống lưu vong tại Pháp, đã mạnh mẽ lên tiếng tố cáo những tội ác của chế độ Teheran, thảm sát hàng chục ngàn người biểu tình chống chính quyền. Đối với bà Shahabi, Iran ngày nay càng giống như là một "nhà tù lớn". Sinh tại Teheran năm 1963, Katayoun Shahabi theo học văn học Pháp trước khi gia nhập Quỹ Điện ảnh Farabi (FCF) năm 1984. Mười năm sau, bà thành lập Cima Media International, chuyên quảng bá các chương trình nghe nhìn và đồng sản xuất nhiều phim tài liệu và phim truyện. Năm 2001, bà thành lập công ty riêng, Sheherazad Media International (SMI), trở thành nhà phân phối tư nhân lớn nhất các bộ phim Iran trên toàn thế giới. Katayoun Shahabi cũng đã đồng sản xuất nhiều phim tài liệu, như với kênh truyền hình Pháp-Đức Arte và sau đó sản xuất phim truyện, vẫn theo hình thức đồng sản xuất. Katayoon Shahabi từng là thành viên ban giám khảo tại các liên hoan phim quốc tế như San Sebastian (với tư cách chủ tịch), Liên hoan phim tài liệu quốc tế Amsterdam (IDFA) và Mannheim-Heidelberg. Bà còn là thành iên ban giám khảo cho hạng mục tranh giải chính tại Liên hoan phim Cannes 2016, là người Iran thứ ba được chọn vào ban giám khảo này sau các đạo diễn Abbas Kiarostami và Leila Hatami. Trả lời RFI Việt ngữ tại Liên hoan Vesoul ngày 28/01/2026, Katayoun Shahabi cho biết: “Tôi bắt đầu sự nghiệp ở tuổi 20 tại Quỹ Điện ảnh Farabi, chuyên quảng bá phim Iran trên toàn thế giới. Chính tại đó mà tôi thực sự khám phá ra điện ảnh Iran, khám phá những đạo diễn lớn. Tôi chưa từng học về điện ảnh và ban đầu không có mục tiêu làm phim, nhưng lúc đó tôi quyết định sẽ làm việc trong lĩnh vực điện ảnh. Tôi lớn lên trong một gia đình mà không ai bảo tôi rằng một phụ nữ sẽ bị những hạn chế. Vì vậy, khi bắt đầu làm việc, tôi không hiểu tại sao tất cả các đồng nghiệp mới được tuyển dụng đều được đi dự liên hoan phim, trong khi tôi thì không được cử đi. Tôi cũng không hiểu tại sao tôi không thể viết tên mình mà luôn phải viết tên của những người đàn ông làm việc với tôi. Như thể tôi là người vô hình vậy! Đó là lý do tại sao tôi đã từ chức khỏi Quỹ Điện ảnh Farabi và sau chín năm, tôi rời khỏi Cima Media International, rồi quyết định thành lập công ty riêng của mình. Khi còn làm công tác truyền thông, tôi đã yêu cầu được cử đi nước ngoài vì tôi là giám đốc phụ trách các vấn đề quốc tế, nhưng họ không muốn cử tôi đi, chẳng hạn như tham gia Liên hoan phim Cannes. Tôi bèn nói với họ: "Hoặc là các ông cử tôi đi, hoặc là tôi sẽ từ chức." Thế là họ phải cử tôi đi, vì tôi là người có kinh nghiệm nhất, họ không có ai khác. Vì vậy, tôi hiểu rằng mình luôn phải đòi những gì mình phải được hưởng, vì không ai tự nhiên cho mình cả.” Ngày 17/09/2011, Katayoon và sáu nhà làm phim khác bị bắt giữ với cáo buộc "làm gián điệp cho Đài BBC tiếng Ba Tư". Chính quyền cho rằng các phim tài liệu do BBC phát sóng là bất hợp pháp và vẽ nên "một bức tranh đen tối về Iran và người dân Iran". Các vụ bắt giữ này đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối trên thế giới. Katayoon Shahabi kể lại: “Tôi đã bị bắt sau khi ban tiếng Ba Tư của đài BBC được thành lập ở Iran. Vào năm 2008 đã có các cuộc bạo loạn đầu tiên và BBC Ba Tư đã đưa tin về những vụ đó. Họ đã tiếp cận tôi với tư cách là nhà sản xuất và phân phối phim để đề nghị tôi làm phim, nhưng tôi từ chối. Sau đó, họ sản xuất một bộ phim về Khamenei và muốn phát sóng nó. Chính quyền đã nói với họ: "Nếu các ông phát sóng bộ phim đó, chúng tôi sẽ coi đó là lằn ranh đỏ. Chúng tôi sẽ khiến không ai có thể làm việc với các ông nữa." Tôi là nhà sản xuất kiêm nhà phân phối quốc tế duy nhất trong số họ và là phụ nữ duy nhất. Vì tôi khá nổi tiếng trong giới điện ảnh lúc đó, họ muốn lấy tôi làm gương và nói rằng: “Hãy cẩn ...
    Mostra di più Mostra meno
    10 min
  • Tiểu thuyết Agatha Christie có thêm sức sống nhờ màn ảnh rộng
    Feb 6 2026
    Năm mươi năm sau ngày Agatha Christie qua đời (1890-1976), các tác phẩm của bà vẫn giữ nguyên sức cuốn hút đối với nhiều thế hệ độc giả. Với hơn hai tỷ rưỡi quyển sách bán chạy từ gần một thế kỷ qua, nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie chẳng những là một trong những tác giả được đọc nhiều nhất, mà còn gợi hứng cho các nhà làm phim thực hiện các bản phóng tác điện ảnh cũng như truyền hình. Theo công ty nghiên cứu thị trường GfK, có trụ sở tại Đức, khi qua đời nhà văn người Anh Agatha Christie đã để lại một di sản nghệ thuật đồ sộ với 66 quyển tiểu thuyết, khoảng 150 truyện ngắn, 20 vở kịch và hai cuốn hồi ký. Thế nhưng, có khá nhiều người hâm mộ lần đầu tiên khám phá thế giới của nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám không phải là qua văn chương mà chủ yếu là qua phim ảnh. Kể từ đầu những năm 1930, tác phẩm của Agatha Christie đã bắt đầu được chuyển thể lên màn ảnh lớn với nhân vật thám tử tư Hercule Poirot, đó là trường hợp của bộ phim Black Coffee (Cà phê đen 1931) dựa theo vở kịch cùng tên. Từ đó đến nay, đã có khoảng 50 tác phẩm của bà được phóng tác thành phim truyện điện ảnh, trong khi các phiên bản nhiều tập chiếu trên đài truyền hình được phát đi phát lại, rất nhiều lần. Chuyên gia Jérémy Picard là tác giả quyển sách « Agatha Christie : Des romans à l'écran » (Agatha Christie : Từ tiểu thuyết đến màn ảnh) do nhà xuất bản Hugo Doc phát hành. Trả lời phỏng vấn RFI Pháp ngữ, anh cho biết có một điều nghịch lý là mặc dù các bộ phim thành công rực rỡ, nhưng sinh thời Agatha Christie lại không thích các phiên bản điện ảnh phóng tác từ các quyển tiểu thuyết của mình. « Theo tôi, bà Agatha Christie không có nhiều thiện cảm với các bản phóng tác điện ảnh vì lý do tuổi tác. Bà thuộc thế hệ lớn lên trước thời đại khai sinh nền điện ảnh. Những bản chuyển thể đầu tiên từ tiểu thuyết thành phim truyện, thực sự đã gây thất vọng : người xem có cảm tưởng phim trinh thám được quay để "kiếm tiền" chứ không hề có tham vọng nghệ thuật nào. Riêng đối với chính tác giả, các bản phóng tác điện ảnh đầu tiên ít khi nào trung thành với tác phẩm gốc : cốt truyện, nhân vật và thậm chí kết cục bị thay đổi đáng kể, theo ý muốn của nhà sản xuất. Vào năm 1933, bộ phim Pháp "Chiếc hộp sơn mài" (Le coffret de laque) với nữ diễn viên Danielle Darrieux trong vai chính đã được cho ra mắt khán giả mà không hề ghi rằng phim này dựa trên tác phẩm (Cà phê đen/Black Cofee) của nhà văn Agatha Christie. Điều đó khiến bà ghét những người chuyên cắt xén, sửa đổi hay viết lại kịch bản. » Nếu không có nhiều cảm tình với các nhà sản xuất phim ảnh, vậy thì tại sao sinh thời, nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie thường hay bán lại quyền khai thác các quyển sách ăn khách của mình. Tác giả Jérémy Picard giải thích tiếp : « Sinh thời, bà Agatha Christie có đầu óc thực dụng của một nhà kinh doanh. Mặc dù không mặn mà gì với ngành công nghiệp điện ảnh, nhưng bà vẫn tiếp tục nhượng lại bản quyền vì lý do tài chính. Phim dựa theo tiểu thuyết của bà thường có nguồn kinh phí cao, trong trường hợp bộ phim thu hút được nhiều khán giả, bà lại càng dễ mặc cả bản quyền của mình khi có dự án làm phim mới. Xa hơn nữa, thành công của bộ phim phóng tác cũng có lợi cho tác phẩm gốc. Thành công của các phiên bản điện ảnh giúp cho các nhân vật trở nên gần gũi hơn với những khán giả không đọc sách và từ đó họ có thể tìm đọc các quyển tiểu thuyết của nhà văn người Anh. Vào những năm 1960, khi lần đầu tiên bộ tiểu thuyết với nhân vật Miss Marple được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập, với nữ diễn viên Margaret Rutherford trong vai chính, bà Agatha Christie đã không ngại lên tiếng chê bai, từ khâu soạn kịch bản cho đến thành phần diễn viên mà bà cho là quá tệ. Tuy nhiên, sau một thời gian, khi Miss Marple thành công trên màn ảnh nhỏ, chinh phục được nhiều khán giả truyền hình, thì lúc ấy nhà văn người Anh mới ...
    Mostra di più Mostra meno
    9 min
  • Hoa hồng Centifolia : Mỏ vàng của các nhà chế biến nước hoa Pháp
    Jan 23 2026
    Nhắc đến nước hoa cao cấp, người Pháp thường nghĩ đến ngay thành phố Grasse, chiếc nôi của ngành trồng nhiều loại hoa thơm để làm hương liệu, trong đó có hoa hồng, hoa huệ hay hoa lài… Trong những năm gần đây, các nhà trồng hoa đã mở thêm nhiều nông trại ở miền nam nước Pháp để giảm lệ thuộc vào nhập khẩu, trong bối cảnh giá hương liệu trên thị trường quốc tế ngày càng gia tăng. Từ nhiều thế hệ qua, hoa hồng luôn là loài hoa yêu thích của người tiêu dùng ở Pháp. Hàng năm, có hơn 22 triệu bó hoa hồng được bán tại Pháp, cao hơn nhiều so với hoa lan, tulip hay hoa huệ. Thế nhưng, hơn ba phần tư số hoa hồng được bán ở Pháp, chủ yếu được nhập khẩu từ châu Phi, Đông Âu hoặc Nam Mỹ. Để tồn tại trên thị trường, ngành sản xuất hoa hồng của Pháp tập trung vào phân khúc cao cấp, sản xuất các loài hoa có nụ to đắt tiền hơn hoặc trồng các giống hồng xưa (rose ancienne) để làm hương liệu. Đó là trường hợp của gia đình Meilland ở vùng Provence, chuyên lai ghép để tạo ra nhiều giống hoa hồng nổi tiếng khác lạ, độc đáo. Từ nhiều thế hệ qua, gia đình Meilland đã 5 lần đoạt giải Hoa hồng đẹp nhất thế giới nhân các kỳ thi quốc tế từ năm 1976 đến năm 2021. Anh Mathias Meilland là người thừa kế của một dòng họ chuyên trồng hoa hồng kể từ năm 1850. Để lai ghép hai giống khác nhau nhằm tạo ra một kiểu hoa thứ ba, gia đình này chuyên dùng cách thụ phấn bằng tay. Phương cách thủ công khá tỉ mỉ này giúp cho nhà trồng hoa sau nhiều lần làm thử, tuyển lựa được thêm những giống mới. Trả lời phỏng vấn kênh truyền hình France 24, anh Mathias Meilland cho biết công ty gia đình anh dành hơn một triệu euro mỗi năm cho khâu nghiên cứu và phát triển các giống hoa mới : Mathias Meilland : Quá trình tuyển chọn của chúng tôi rất nghiêm ngặt. Ưu điểm đầu tiên vẫn là màu sắc. Chúng tôi phải thử nghiệm rất nhiều lần, mới tìm thấy được màu sắc mong muốn. Sở thích về màu sắc thường không giống nhau, điều này còn tùy theo vùng miền. Khi mua hoa hồng, người tiêu dùng ở Bắc Mỹ thích màu đỏ rực rỡ tươi thắm, trong khi người Pháp lại nghiêng về màu đỏ sẩm. Kích thước của nụ hoa cũng quan trọng không kém : nụ hoa càng lớn và có nhiều lớp, càng có chất lượng cao. Loại hoa đắt tiền không phải là hoa hồng cánh dày mà thường là hoa đầy đặn với nhiều cánh xếp chồng lên nhau. Ưu điểm cuối cùng là hương thơm, nếu hoa hồng hội tụ cả ba yếu tố màu sắc, kích thước và hương thơm, thì chẳng còn gì lý tưởng hơn, người trồng hoa lại càng dễ kinh doanh sản phẩm của mình, sau quá trình tuyển chọn giống mới. Trong số các loại hoa hồng có rất nhiều hương thơm thường được sử dụng trong ngành mỹ phẩm, loài hồng Centifolia được xem như là « mỏ vàng » của các nhà chế biến nước hoa. Tại thành phố Grasse, chiếc nôi của ngành sản xuất nước hoa, ngành trồng hoa đã tăng diện tích đất canh tác xung quanh ngôi làng Pegomas. Hai địa danh này chỉ nằm cách nhau khoảng 10 cây số. Centifolia, dịch sát nghĩa là hoa hồng trăm cánh, do mỗi nụ hoa có rất nhiều cánh xếp chồng lên nhau. Loài này do thường nở rộ vào giữa mùa xuân cho nên còn được gọi là « hoa hồng tháng Năm ». Được sử dụng trong nhiều hiệu nước hoa nổi tiếng như Lancôme, Chanel hay Dior, hoa hồng Centifolia là một hương liệu lâu đời, có từ thế kỷ XIX. Ưu điểm của Centifolia vẫn là nụ hoa thường to dày, có nhiều lớp cánh thật mỏng, ẩn chứa nhiều hương thơm tinh tế và đa dạng : môt nụ hoa bao gồm cùng lúc nhiều nốt hương thơm ngát như trái cây, ngọt ngào mùi mật ong. Để tránh làm dập nát những nhánh hoa, hoa hồng Centifolia thường được hái bằng tay, rồi được đặt trên các tấm lưới xếp chồng, nhưng không đè lên nhau. Từ khâu hái hoa, cho vào bao, rồi vận chuyển đến nhà máy chiết xuất hương liệu, tất cả được thực hiện chỉ trong vài giờ để bảo đảm nồng độ hương thơm. Trong khâu chiết xuất, các nhà chế biến dùng cách tinh lọc để đạt được mùi hương, càng tinh túy chừng nào càng tốt chừng ...
    Mostra di più Mostra meno
    9 min
  • Cơn sốt tiêu dùng khiến bột trà xanh matcha trở nên khan hiếm
    Jan 9 2026
    Trong những tuần lễ đầu tháng Giêng, người Pháp thường có truyền thống ăn Bánh Ba Vua « Galette des Rois » nhân mùa lễ Hiển Linh « Épiphanie ». Năm nay, ngoài các hương bánh phổ biến như hạnh nhân, quả táo hay hồ trăn, còn bắt đầu xuất hiện loại bánh galette nhân trà xanh matcha. Thế nhưng, loại bánh này không hề rẻ, gần 60 euro một ổ bánh 8 phần, do trà xanh matcha đang rơi vào tình trạng khan hiếm nguồn cung. Matcha là loại bột trà xanh được làm bằng lá trà non (tencha) phơi khô, loại bỏ phần cuống và gân lá, rồi dùng cối đá để nghiền nhuyễn, xay mịn. Nổi tiếng là rất tốt cho sức khỏe, bột trà xanh matcha đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của lối sống lành mạnh, được sử dụng rất nhiều trong ngành ẩm thực. Cô Andie Ella là một người gây ảnh hưởng ở Pháp với hơn nửa triệu người đăng ký theo dõi tài khoản trên mạng xã hội. Trên kênh truyền hình France 24, cô cho biết cơn sốt trà matcha không phải là điều mới mẻ, nhưng các trào lưu trong giới tiêu dùng đã tăng nhanh gấp bội, nhờ tốc độ lan truyền của các mạng xã hội : « Theo tôi, matcha trở nên thịnh hành phổ biến chủ yếu nhờ vào các mạng xã hội. Đầu tiên hết, màu sắc của matcha khá bắt mắt nên dễ thu hút giới thích chụp ảnh trên Instagram. Thật vậy, loại bột trà màu xanh nhuyễn mịn này, khi được khuấy đều hay được pha với sữa, tạo ra nhiều thức uống đẹp mắt, chỉ cần nhìn thoáng qua là người ta bỗng dưng thèm ngay, muốn uống thử loại trà này. Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng là một điểm đến hấp dẫn trong mắt nhiều khách du lịch quốc tế. Hai hình ảnh bổ sung cho nhau, làm tăng thêm nét quyến rũ của matcha. Cuối cùng, matcha càng trở nên phổ biến vì thức uống truyền thống của Nhật Bản rất hợp với các xu hướng đề cao lối sống lành mạnh hiện thời : ẩm thực giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, làm đẹp làn da, gìn giữ sức khỏe. Bột trà xanh của Nhật Bản đáp ứng các tiêu chuẩn này. » Sau vài chuyến đi Nhật Bản, cô Andie Ella đã cho ra mắt thương hiệu « Milia Matcha », sử dụng loại trà xanh Okumidori với nhiều mùi thơm tự nhiên và hầu như không có vị đắng, được sản xuất tại miền nam quần đảo Nhật Bản. Bột trà xanh matcha giờ đây được khai thác dưới nhiều hình thức : ngoài các thức uống pha sữa (matcha latte) hay trân châu (bubble tea) còn có nhiều món tráng miệng như mochi, bánh flan, kem trà xanh... Giờ đây lại có thêm nhiều loại mỹ phẩm cũng như kem dưỡng da kết hợp với bột trà matcha. Theo nhà sản xuất người Nhật Masahiro Okutomi sống trong một gia đình trồng trà từ 15 đời qua, sự khai thác quá mức này có nguy cơ tạo ra tình trạng khan hiếm, do nguồn cung không đuổi kịp mức cầu. « Với tư cách là một người chế biến matcha, tôi rất vui mừng khi thấy bột trà xanh Nhật Bản thu hút được nhiều sự chú ý như vậy. Có thể nói là có rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới, dù không hẹn nhưng đều cùng quan tâm đến matcha của Nhật Bản. Tuy nhiên, mọi chuyện đang trở nên căng thẳng, nhu cầu của người tiêu dùng không ngừng gia tăng, tạo ra nhiều sức ép lên ngành sản xuất matcha : từ các nhà trồng trọt cho đến các gia đình thu hoạch trà xanh để sản xuất bột trà. Trước mắt, chuỗi cung ứng đang bị đe dọa, có nguy cơ bị thiếu hụt sản phẩm. Bản thân tôi cũng đang chịu nhiều áp lực và trong ngắn hạn, tôi cảm thấy dù có cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể đáp ứng nổi nhu cầu ngày càng lớn từ người tiêu dùng. » Theo ông Shigehito Nishikida, nhà quản lý tiệm trà Jugetsudo nằm tại khu phố trung tâm Tsukiji ở Tokyo, cửa hàng này đang tìm cách hạn chế lượng trà trong mỗi lần mua bán. Trong vài năm qua, cơn sốt ghiền matcha ngày càng tăng mạnh, do nhiều khách hàng muốn mua thêm matcha để tự pha ở nhà, sau khi xem các đoạn video trên TikTok. Theo kênh truyền hình France 24, thị trường toàn cầu đang bị ảnh hưởng vì người tiêu dùng đang thay đổi thói quen dùng trà matcha. Chỉ trong năm qua, mức sản xuất đã không theo kịp đà tăng của mức cầu, khiến giá matcha đã tăng hơn 170% ...
    Mostra di più Mostra meno
    9 min
  • Nhìn lại 60 năm đường hầm Mont-Blanc: Xuyên núi, bắc cầu tình hữu nghị Pháp - Ý
    Jan 7 2026
    Cách nay 60 năm, ngày 16/07/1965, tổng thống Pháp Charles de Gaulle và lãnh đạo Ý Giuseppe Saragat đã khánh thành tuyến đường hầm xuyên núi, dài 11,4km, bên dưới đỉnh Aiguille du Midi, trong dãy núi Mont Blanc. Giấc mơ xuyên núi kéo dài hai thế kỷ, không chỉ thể hiện những tiến bộ về kỹ thuật trong nửa đầu thế kỷ 19, mà còn phản ánh quan hệ Pháp – Ý trong chiều dài lịch sử đầy biến động. Vào năm 1787, nhà tự nhiên học người Thụy Sĩ Horace-Bénédict de Saussure từng tiên đoán: “Sẽ đến ngày người ta khoan một con đường dưới chân Mont-Blanc”, theo trích dẫn trong bài luận án của tiến sĩ lịch sử Stéphane Mourlane, trường đại học Nice Sophia - Antipolis. Lúc đó, vấn đề kỹ thuật là một thách thức lớn và giấc mơ này khó khả thi. Đến giai đoạn những năm 1840-1850, ý tưởng nối Chamonix và Courmayeur đã được nêu lại nhằm xóa bỏ sự cô lập của các thị trấn ven núi biên giới giữa hai nước. Năm 1844, luật sư Laurent Martinet đã mô tả một đường hầm dài 12 km, giữa Boissons (Pháp) và Entreves (Ý). Ý tưởng này đã được cụ thể hóa bởi kỹ sư Joseph Alby, thuộc trường Ecole Centrale de Paris, bảo đảm có thể thực hiện được, với các thiết bị khoan hiện đại hơn. Hai thế kỷ đầy khúc mắc chính trị Thế nhưng, phải mất gần hai thế kỷ sau đó, giấc mơ đó mới thành hiện thực bởi những rối ren chính trị. Vào tháng 07/1965, đường hầm xuyên dãy núi Alps dưới đỉnh Mont-Blanc, ngọn núi cao nhất châu Âu, mới chính thức được khánh thành, khép lại một trang sử đầy trắc trở trong lịch sử giữa Pháp và Ý. Cụ thể, dãy Mont-Blanc trở thành biên giới tự nhiên giữa Pháp và Ý ngay sau khi nước Ý thống nhất và vùng Savoie được sáp nhập vào Pháp vào năm 1860. Tuy nhiên, lúc đó, ý tưởng về việc khoan một đường hầm xuyên núi bị phe bảo thủ coi là một hành động « mở cửa biên giới », khó được chấp nhận. Trong khi đó, Ý lại tập trung vào dự án hầm Gothard để kết nối với Đức, thay vì hợp tác với Pháp. Vào năm 1882, khi Ý chính thức gia nhập liên minh quân sự với Đức và Áo-Hung, quan hệ Pháp - Ý bước vào giai đoạn căng thẳng, khiến mọi kế hoạch hợp tác đều bị đình trệ. Phải đến cuối thế kỷ 19, quan hệ hai nước được cải thiện mới tạo điều kiện để tái khởi động ý tưởng xây hầm. Các cuộc gặp ngoại giao cấp cao và đề xuất kỹ thuật khả thi từ kỹ sư Monod đã mở ra hy vọng. Tuy nhiên, mâu thuẫn ngân sách, tranh chấp thương mại và chiến dịch quân sự của Ý tại Libya lại khiến dự án rơi vào bế tắc. Chiến tranh thế giới lần thứ nhất tiếp tục làm đình hoãn mọi tiến trình. Giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới, ý tưởng về đường hầm Mont-Blanc gần như bị lãng quên bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít và căng thẳng Pháp - Ý dưới thời Mussolini. Khi Ý tuyên chiến với Pháp năm 1940, hy vọng về một dự án chung hoàn toàn tan vỡ. Chỉ sau Đệ Nhị Thế Chiến, trong bối cảnh châu Âu tái thiết, dự án này dần trở lên khả thi hơn. Từ năm 1946, doanh nhân Ý Dino Lora Totino cùng các đội ngũ chuyên môn về kỹ thuật của hai nước khởi động lại nghiên cứu dự án hầm xuyên núi. Dù vẫn gặp trở ngại tài chính, một hội nghị liên chính phủ năm 1949 đã thống nhất chọn Mont-Blanc làm vị trí khoan hầm. Trả lời trang RCF, nhà sử học Stéphane Mourlan nhấn mạnh rằng “đòn bẩy thực sự để thực sự để triển khai dự án là việc Hiệp ước Roma được ký vào ngày 25/03/1957, thiết lập thị trường chung châu Âu, tạo điều kiện thúc đẩy trao đổi thương mại Pháp Ý.” Trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy xây dựng một khối thống nhất, công trình đã được khởi công vào ngày 08/01/1959. Tổng thống Pháp lúc đó, Charles de Gaulle, coi dự án Mont-Blanc là biểu tượng của “tình hữu nghị đặc biệt” giữa hai dân tộc và là điểm tựa để đẩy mạnh liên kết chính trị châu Âu. Trong buổi lễ khánh thành, tổng thống Ý Giuseppe Saragat khẳng định : Đường hầm này thống nhất hai dân tộc chúng ta và quan trọng hơn là hiệp ước hữu nghị, liên minh hoặc cam kết về ...
    Mostra di più Mostra meno
    9 min
  • Thế Sơn: 40 năm vẫn gắn bó với sân khấu hải ngoại
    Dec 28 2025
    Ngày 28/09/2025, nam ca sĩ Thế Sơn từ Hoa Kỳ đã sang Paris để trình diễn trong chương trình kỷ niệm 30 năm định cư tại Pháp của nữ ca sĩ Lệ Thu Nguyễn. Chuyến lưu diễn tại Pháp lần này cũng đánh dấu 40 năm sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn, vốn đã nổi tiếng từ khi còn ở Việt Nam và sau khi đến Hoa Kỳ định cư đã cộng tác trong suốt nhiều năm với các trung tâm Thúy Nga và Asia, trở thành một tên tuổi quen thuộc trên các sân khấu hải ngoại. Nhân dịp sang Paris, Thế Sơn đã dành cho RFI Việt ngữ một bài phỏng vấn sau đây: Hôm nay RFI Việt ngữ rất vui mừng được tiếp chuyện với nam ca sĩ Thế Sơn tại Paris. Trước tiên Thế Sơn xin kính chào quý vị khán thính giả của RFI và xin mến chào anh Thanh Phương. Đây không biết là lần thứ bao nhiêu rồi Thế Sơn đến với thủ đô nước Pháp. Đối với Thế Sơn, Paris chắc không có gì xa lạ? Kính thưa quý vị, Thế Sơn rất yêu mến Paris ngay từ khi còn ở Việt Nam và Thế Sơn cũng có rất nhiều họ hàng định cư ở Paris trước đây rất lâu. Sơn cũng có may mắn là trước đây cộng tác với Paris by night, cho nên qua thu hình cũng như qua trình diễn tại Paris rất nhiều. Thế Sơn học Lasan Taberd, lúc đó không còn chương trình Pháp nữa mà là chương trình Việt, nhưng Sơn học sinh ngữ là Pháp văn. Sơn rất thích nhạc Pháp, rất thích phát âm tiếng Pháp, tại vì Sơn thấy Pháp ngữ phát âm rất là gọn, rất là bén, nghe hay lắm, êm tai lắm! Bây giờ trở lại từ khởi đầu sự nghiệp ca nhạc của Thế Sơn. Lúc đầu chắc là Thế Sơn đâu có tính chọn con đường ca nhạc, vì hình như là trước đây Thế Sơn học trường Trung học Sư phạm? Thưa anh và thưa quý vị, trong dòng họ Thế Sơn, ai cũng đi theo con đường học vấn. Đa số đều thành tài ở những lĩnh vực như kỹ sư, bác sĩ. Gia đình đều hướng con cái đi theo con đường học. Nhưng có thể là do duyên Trời hay đó là một cái nghiệp, trong họ hàng chỉ có mình Thế Sơn là rẻ qua đường ca nhạc thôi. Lúc đầu ba má Sơn cũng không ủng hộ. Má Sơn là giáo viên thành ra bà rất mẫu mực, vẫn còn theo xưa, bà không có thích giới văn nghệ, nên không ủng hộ Sơn vô con đường ca hát. Nhưng mà như Sơn đã nói, chính cái nghiệp cái duyên đưa đẩy Sơn vô con đường ca hát vào năm 1985. Vậy thì cơ duyên nào đã đẩy Thế Sơn vào con đường này? Khi Thế Sơn học Trung học Sư phạm, nhân dịp sinh hoạt hè ở Duyên Hải Cần Giờ khoảng năm 83, 84, buổi tối buồn không biết làm gì hết, cả lớp kéo nhau ra ngoài trời, đốt lửa trại rồi cầm đàn nghêu ngao hát, văn nghệ văn gừng với nhau. Thì Sơn cầm đàn và hát bài "Đó! Quê hương tôi" của Vĩnh Điện, thì bạn bè trong lớp ai cũng thích hết và thích giọng hát của Sơn. Có một thằng bạn thân nói: “Giọng mày hay lắm, học thêm thanh nhạc, luyện thêm là làm ca sĩ được”. Thì từ đó nó gieo vào đầu Sơn một tư tưởng là đi làm ca sĩ, chứ từ trước đến giờ Sơn chỉ hát chơi thôi và tánh mình cũng nhút nhát nên không nghĩ tới chuyện ra trước đám đông để trình diễn. Sơn đi học ngoài giờ ở nhạc viện, thì cũng rất may mắn có người thầy tên là Bùi Trần Tiến cũng thích giọng của Thế Sơn lắm, cho nên gợi ý với Thế Sơn là nếu muốn thi vô trường nhạc chính quy thì tới nhà thầy, thầy sẽ luyện thi miễn phí để thi đậu vô trường nhạc. Sơn nghe lời thầy và tới để thầy luyện, rồi sau đó thi đậu vô trường nhạc. Đó là lúc bắt đầu nghiệp ca hát luôn. Chúng tôi được biết là trong trường nhạc, Thế Sơn được dạy hát opera chứ không phải là hát nhạc pop như bây giờ. Như vậy là lúc đầu, đối với một người tuy có giọng ca bẩm sinh, có phải mất rất nhiều công sức để luyện tập hát được opera không? Opera là một môn nghệ thuật về ca hát rất khó. Có những người luyện cả đời cũng không được, vì không có giọng, không có giọng Trời cho. Lúc Sơn bắt đầu học, vì từ trước giờ mình hát giọng tự nhiên, nên không cảm nhận được thể loại opera. Lúc đó Sơn không thích, thật sự không thích opera, nhưng vô trong đó là bắt buộc phải hát opera. Hát loại nhạc ...
    Mostra di più Mostra meno
    22 min